Chuyển đến nội dung chính

Bài học thất bại của đồng hồ Thụy Sĩ

Cuối những năm 70, ngành sản xuất đồng hồ Thuỵ Sĩ với 400 năm lịch sử, với lượng tiêu thụ đứng đầu thế giới, đã có bước xuống dốc trầm trọng. Toàn bộ ngành đồng hồ Thuỵ Sĩ phải đối đầu với thế nghìn cân treo sợi tóc, bên bờ của sự phá sản chỉ vì ''coi thường'' đối thủ và không nhanh nhạy trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường.

Trong thời kỳ này, lượng đồng hồ trước đây chiếm 40% tổng sản lượng thế giới, đã giảm mạnh xuống chỉ còn 9% vào năm 1982, lượng đồng hồ đeo tay năm 1973 từ 96 triệu chiếc tụt xuống chỉ còn 53 triệu chiếc vào năm 1982. Lượng đồng hồ bán ra thế giới từ 82 triệu chiếc đã giảm còn còn 31 triệu chiếc. Tổng giá trị tụt xuống đứng hàng thứ 3 thế giới. Hơn một nửa số công nhân đã đồng loạt rời bỏ nhà máy sản xuất đồng hồ mà mấy đời họ đã gắn bó và sống dựa vào nó, đứng vào hàng ngũ những người thất nghiệp.

Nguyên nhân chính là đối thủ sản xuất đồng hồ của người Thuỵ Sĩ là Nhật Bản đã nghiên cứu được rằng, trong vòng từ 10 năm đến 20 năm tới, nhu cầu thị trường lớn nhất về đồng hồ không phải là loại đồng hồ cơ danh tiếng mà là loại đồng hồ đẹp, giá rẻ và chính xác, đó là đồng hồ điện tử thạch anh.

Điều đáng tiếc là chiếc đồng hồ điện tử thạch anh đầu tiên lại do người Thuỵ Sĩ phát minh và nghiên cứu chế tạo ra. Tuy nhiên, trong con mắt của người Thuỵ Sĩ, đồng hồ điện tử thạch anh chẳng qua là một thứ đồ chơi xinh xắn, cho nên mới để người Nhật giành mất cơ hội này. Về sau, các chuyên gia ngành đồng hồ Thuỵ Sĩ đã phân tích nguyên nhân xuống dốc: đó là đồng hồ sản xuất không thích ứng kịp với nhu cầu thị trường, không theo kịp được sự thay đổi của nhu cầu thị trường. Chính từ bài học thất bại này, họ đã quyết định chọn sách lược chuyển từ đồng hồ chạy cơ là chủ yếu sang đồng hồ điện tử là chủ yếu và nhanh chóng giành lại được ngôi vị quán quân trong ngành sản xuất đồng hồ trên thế giới.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sushi - nét hấp dẫn từ hải sản

Sushi là một món ăn truyền thống của Nhật Bản được làm từ cơm kết hợp với hải sản tươi sống hoặc chín, với rau và với một số gia vị (nhất là wasabi nếu là sushi hải sản). Sushi có nguồn gốc từ phương pháp bảo quản cá bằng cách ủ vào trong cơm của khu vực Đông Nam Á. Một số thuật ngữ Sushi viết bằng tiếng Nhật có nhiều cách: 寿司, 壽司, 鮨, 鮓, すし. Tuy nhiên, tất cả đều đọc là xư-si như trong tiếng Việt. Có thể có lúc đọc là dư-si nếu được kết hợp với từ khác. Nếu đọc theo âm Hán Việt thì là thọ ty. Thứ cơm trộn dấm để làm sushi được gọi là sumeshi hoặc sushimeshi. Loại dấm để nấu thứ cơm này không phải là dấm thông thường mà là dấm có pha chút muối, đường, rượu ngọt mirin, vì thế gọi là dấm hỗn hợp awasesu. Dấm này chuyên dùng để chế biến sushi, nên gọi còn được là sushisu. Cơm nấu xong (nấu không chín hoàn toàn như cơm bình thường) được đổ ra một cái chậu gỗ gọi là tarai rồi trộn dấm vào. Vừa trộn vừa dùng quạt tay quạt cho hơi nóng thoát bớt ra để giữ hương vị của dấm. Các loại hải sản dùn...

Vua dầu mỏ Rockefeller

Rockefeller là người sáng lập tập đoàn Standard Oil. Lịch sử nước Mỹ từng có một nhà công nghiệp vừa được kính nể và khâm phục bởi tài làm giàu nhanh chóng, nhưng cũng vừa bị khiếp sợ bởi những tham vọng khôn cùng. Đó chính là John Davidson Rockefeller, được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất. Rockefeller có tham vọng chi phối cả nước Mỹ, chi phối cả chính trị, xã hội thông qua tiềm lực và ảnh hưởng kinh tế có một không hai của mình. Từ những đồng đôla đầu tiên, sau 50 năm kinh doanh, Rockefeller đã tạo cho mình một tài sản trên 900 triệu USD (tính đến thời điểm những năm cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, tức cách đây đã 100 năm). Số tiền đó tương đương với 190 tỷ USD bây giờ, một con số kỷ lục, hơn tất cả tài sản của 10 tỷ phú lớn nhất hiện nay cộng lại. Rockefeller vốn xuất thân từ một gia đình công nhân Do Thái di cư sang Mỹ. Ngay từ nhỏ, ông đã phải vừa học vừa kiếm tiền thêm bằng nghề khuân vác và rửa bát thuê. Ông đã học cách chắt chiu, tiết kiệm từ bé. Trong ...

Các giai đoạn chính trong quá trình phát sinh loài người

Quá trình phát sinh loài người đã trải qua các giai đoạn chính sau đây: vượn người hoá thạch, người tối cổ (người vượn), người cổ và người hiện đại. Quá trình này đã được chứng minh bằng các hoá thạch phát hiện ngày càng đầy đủ. I/.CÁC DẠNG VƯỢN NGƯỜI HÓA THẠCH Dạng vượn người hoá thạch cổ nhất là Parapitec sống ở giữa kỷ Thứ ba, cách đây khoảng 30 triệu năm. Đây là một loài khỉ mũi hẹp, bằng con mèo, có đuôi, mặt khá ngắn, hộp sọ khá lớn, sử dụng chi trước vào nhiều hoạt động như cầm nắm thức ăn, bóc vỏ quả cây. Từ Parapitec đã phát sinh ra vượn, đười ươi ngày nay và Đriôpitec đã tuyệt diệt. Một nhánh con cháu của Đriôpitec dẫn tới gôrila và tinh tinh. Một nhánh khác dẫn tới loài người, qua một dạng trung gian đã tuyệt diệt là Ôxtraôpitec sống ở cuối kỷ Thứ ba, cách đây hơn 5 triệu năm. Chúng đã chuyển hẳn xuống mặt đất, đi bằng 2 chân sau, mình hơi khom về phía trước. Chúng sống giữa thảo nguyên trống trải, cao 120 – 140cm, nặng 20 – 40kg, sọ 500 – 600cm3. Chúng đã biết sử dụng cành ...